Tin tức

Tin tức

Featured

Hội thảo Future Grid Vietnam Forum 2019

Hội thảo Future Grid Vietnam Forum 2019.

Thời gian: 7-8/11/2019.

Địa điểm: Khách sạn Le Méridien Saigon, thành phố Hồ Chí Minh.

Đơn vị tổ chức: OnSight Group.

Hội thảo Tương lai Lưới điện Việt Nam 2019 đề cập đến việc phát triển mới nhất lĩnh vực lưới điện Việt Nam, chính sách và quy định Chính phủ, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về vạch kế hoạch phát triển lưới điện, quản lý và vận hành, công nghệ mới sáng tạo hỗ trợ các Công ty Điện lực. Là nơi hội tụ khoảng 150 nhân viên Chính phủ, Công ty Điện lực, Năng lượng, hãng cung cấp hàng đầu thế giới trao đổi cùng hợp tác vì tương lai ngành năng lượng.

Các vấn đề đề cập:

- Các chính sách và quy định.

- Hoạch định và Triển khai hạ tầng truyền tải và phân phối điện.

- Vận hành và quản lý lưới điện.

- Chuyển đổi số hoá phát điện, truyền tải và phân phối.

- Lưới điện thông minh smart grid, năng lượng thông minh và hạ tầng đo điện tiên tiến AMI.

- Năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng, micro-grid, EV charging.

- Nguy cơ an ninh mạng với lưới điện tương lai.

Diễn giả đến từ:

- Bộ công thương.

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN.

- Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia EVN NPT.

- Trung tâm Điều độ Hệ thống Điện quốc gia EVN NLDC.

- Tổng công ty Điện lực TP HCM (EVNHCMC).

 - TNB

- Meralco

- EGAT

- PT PLN

- Electricity Supply Enterprise, Myanmar

- PEA

- TaTa Power-DDL

- CLP Hongkong

- China Southern Power Grid

- NGCP, Philippines

Tháng 2/2019 công suất phát điện cả nước khoảng 50.3 GW. Cuối năm 2019 dự kiến sẽ có bổ sung lên lưới 400 MW năng lượng gió và 2000 MW năng lượng mặt trời. Những khó khăn và cách giải quyết với sự xuất hiện của các nguồn năng lượng tái tạo mới này,  và thác thức công ty điện lực phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽ được đề cập trong hội thảo này.

Hội thảo APCC 2019 thúc đẩy công nghệ cho thành phố thông minh

<

Hội thảo lần thứ 25 Châu Á Thái Bình Dương về Viễn thông ( Asia-Pacific Conference on Communications  - APCC) sẽ diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 2019. Chủ đề hội thảo năm nay là “Thúc đẩy công nghệ cho Thành phố Thông minh”. Ngoài các phần trình bày về kỹ thuật hội thảo còn có trao đổi kinh nghiệm triển khai thực tế và toạ đàm.

APCC 2019 được hỗ trợ bởi tổ chức tiêu chuẩn quốc tế IEEE COMSOC. Các báo cáo kỹ thuật sẽ được lưu trong cơ sở dữ liệu của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế này.

Được thành lập từ năm 1993, APPC là diễn đàn cho nhà nghiên cứu và kỹ sư trong vùng châu Á Thái Bình Dương trình diễn công nghệ tiên tiến về công nghệ viễn thông và dịch vụ, là cầu nối kết nối với công nghệ thế giới.

Sociedad Iberica De Construcciones Electricas S.A trúng thầu giao thông thông minh Đà Nẵng

<

Ban quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên Thành phố Đà Nẵng đã có thông báo trúng thầu cho nhà thầu "Sociedad Iberica De Construcciones Electricas S.A" trúng thầu gói thầu 2.4+2.5 "Cung cấp, lắp đặt Hệ thống Vé và Hệ thống Giao thông Thông minh cho Hệ thống Giao thông Công cộng và Hệ thống Tín hiệu Giao thông ưu tiên cho BRT". Tổng giá trị hợp đồng 84,239,734,024 VNĐ thời gian thực hiện 24 tháng + 12 tháng trách nhiệm sai sót. Đây là gói thầu thuộc dự án "Cải thiện hạ tầng giao thông thành phố Đà Nẵng" nhận tín dụng từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế cho chi phí của Dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng (DSCDP) với tổng dự toán đầu tư 1.427.466.200.000 VNĐ.

Nội dung hợp đồng:

LÔ 1: Cung cấp và lắp đặt hệ thống thu phí tự động (AFC) và Giao thông Thông minh ITS cho hệ thống giao thông công cộng cho tuyến chính BRT; tuyến R1, R3 và 5 tuyến buýt đô thị.

Thu phí tự động (AFC); Hệ thống quản lý đoàn xe (FMS); Hệ thống thông tin hành khách thời gian thực (RTPI); hệ thống CCTV; hệ thống cửa tự động và đỗ xe chính xác; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho Giao thông Thông minh ITS; các hệ thống ITS khác.

LÔ 2: Cung cấp và lắp đặt hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên BRT; Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) (hệ thống thông tin liên lạc có dây và không dây) cho các tuyến xe buýt thuộc Dự án.

Hợp đồng này bao gồm :

- Cung cấp và Lắp đặt hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên cho tuyến chính BRT (bao gồm 60 nút giao thông tín hiệu ưu tiên).

 Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông sử dụng thiết bị vô tuyến, cáp quang, PLC (truyền thông qua dây điện) để kết nối, truyền tải tín hiệu giữa tủ điều khiển và kết nối đến toàn bộ các thiết bị trong hệ thống Giao thông Thông minh ITS, hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên xe buýt BRT và DATRAMAC, trung tâm lưu trữ dữ liệu tại số 2 Quang Trung thành phố Đà Nẵng.

Hàng không sử dụng RFID dò tìm hành ký

<

Hãng hàng không Pháp AirFrance và nhân viên cảng hàng không bắt đầu áp dụng RFID trong công tác quản lý hành lý tại sân bay Charles de Gaulle (CDG) từ năm 2020. Dự án đang được triển khai tại nhà ga và hệ thống phân loại hành lý. Khoảng 8 triệu túi hành lý sẽ được gắn thẻ RFID để theo dõi sau khi gửi từ năm 2020. Mục tiêu làm giảm thời gian chờ, chuyển trung gian cho hành khác.

AirFrance không phải là hãng đầu tiên sử dụng RFID cho dò tìm hành lý. Trước đó Delta Air Lines đã đầu tư sử dụng RFID cho dò tìm hành lý từ năm 2016. Khoản đầu tư đó đã chứng tỏ đươc hiệu quả: hành lý không bị chuyển nhầm và thất lạc, hành khách hài lòng hơn với dịch vụ, chi phí bồi thường do chậm và muộn giảm mạnh. 

Hiệu quả đầu tư của Delta dẫn đến việc năm 2018, Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (International Air Transport Association IATA) đã đưa ra khuyến nghị IATA Resolution 753 mục tiêu 80% hành lý sẽ sử dụng thẻ RFID đến năm 2020. Tại đại hội thường niêm IATA 2019 đã nhất trí quan điểm này từ tất cả các thành viên.

IATA đưa ra danh sách 74 sân bay cần áp dụng công nghệ RFID để thẻ RFID hành lý có thể sử dụng trên toàn cầu. Rất may mắn là việc này chỉ yêu cầu nâng cấp hệ thống phân loại hành lý mà không cần phải thay mới. IATA lưu ý thẻ RFID làm tăng 10-20% độ chính xác cho hệ thống phân loại hành lý.

Danh sách 18 đối tác chiến lược triển khai RFID dò tìm hành lý của IATA: ARINC (Rockwell Collin), Avery Dennison, SITA, Toyo Kanetsu Toyo Kanetsu Solutions K.K., Vanguard ID Systems, Zafire, Amadeus IT Group SA, Brock Solutions Inc, ... 

 

Vinaphone chọn giải pháp hạ tầng khoá công khai IDEMIA

<

Vinaphone đã chọn IDEMIA là nhà cung cấp giải pháp hạ tầng khoá công khai di động (Mobile Public Key Infrastructure). Với công nghệ của IDEMIA, Vinaphone là nhà cung cấp dịch vụ di động đầu tiên cung cấp dịch vụ chữ ký số và xác thực ID bảo mật. Sự hợp tác giữa hai bên sẽ thúc đẩy sự phát triển dịch vụ ID số di động giúp khách hàng Vinaphone thuận tiện và an toàn hơn khi sử dụng các dịch vụ Chính phủ điện tử, giao thông thông minh, ngân hàng và mua bán trực tuyến. Nó cũng thúc đẩy việc sử dụng mobile eService tại Việt Nam.

IDEMIA cung cấp cho nhà cung cấp dịch vụ di động giải pháp ID số sử dụng bảo mật online. Giải pháp bảo mật của công ty hỗ trợ cả Mobile PKI và GSMA Mobile Connect, giúp  Vinaphone triển khai các dịch vụ Mobile Connect cho khách hàng.

Năm 2018, IDEMIA và Tổng công ty thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) cũng đã thử nghiệm trong 3 tháng thanh toán di động WISE HCE (Host Card Emulation) SDK Mobile Payment Engine với các ứng dụng, chíp thẻ của NAPAS. WISE là thanh toán không tiếp xúc cho mạng lưới thanh toán trong nước, các máy ATM. Nó hỗ trợ thanh toán cho giao thông công cộng, thanh toán không dùng tiền mặt (như vé xu buýt, hội viên thân thiết, thẻ khách hàng ...).

Ericsson trúng thầu "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019

<

Tổng công ty hạ tầng mạng (VNPT Net) vừa có công văn số 1397/QĐ-VNPTNet-KHĐT-PTM ngày 25/7/2019 do Phó Tổng giám đốc Nguyễn Như Thông phê duyệt Liên danh  Công ty TNHH Ericsson Việt Nam, CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG VTC, Ericsson AB trúng gói thầu "Cung cấp thiết bị hệ thống vô tuyến" cho dự án "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019". Hình thức đấu thầu là chỉ định thầu quốc tế. Giá trúng thầu gói thầu (đẫ bao gồm thuế nhà thầu nước ngoài, chưa bao gồm thuế VAT) là 38.234.463 USD (Tỷ giá USD /VND : 24.000) và 191.565.764.500 VND. Thời gian thực hiện hợp đồng 12 tháng.

Dự án sẽ được giao cho Ban quản lý hạ tầng II - VNPT Net thực hiện.

 
 
 

Thị trường khí công nghiệp phát triển ổn định

<

Thị trường khí công nghiệp tại Việt Nam phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 6-7%, quy mô thị trường năm 2018 vào khoảng từ 2500-3400 tỷ đồng. 

Nhiều nhà sản xuất từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Malyasia và Singapore đang đầu tư dây chuyền sản xuất vào Việt Nam cũng như các tập đoàn nhà nước sản xuất thép, dầu khí, phân hoá học thúc đẩy nhu cầu sử dụng khí công nghiệp. Thêm vào đó là một số lĩnh vực mới như linh kiện điện tử, thiết bị điện gia dụng, dược phẩm, thức ăn. Chụp cộng hưởng từ tại các bệnh viện cũng sử dụng khí như ni tơ, argon, các bon dioxit và helium. Sản xuất còn tập trung sâu vào các nhà máy quy mô trung bình cũng yêu cầu lượng lớn khí, vật liệu hàn ....

Khi được phỏng vấn về khó khăn trong kinh doanh khí công nghiệp tại Việt Nam, các doanh nghiệp đều trả lời:

- Sự giải thích về pháp luật và quy định an toàn khí tuỳ thuộc nhân viên chính phủ và thời điểm.

- Bình chứa khí áp suất cao không được đánh dầu bằng màu theo loại khí.

- Không có phương pháp về bảo trì.

Các khó khăn tương tự xuất hiện với việc cấp phép. Các xe chở khí công nghiệp áp suất cao không được đi qua các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh. Việc tắc nghẽn giao thông thương xuyên cũng cản trở phát triển khí công nghiệp.

Các công ty cung cấp khí công nghiệp lớn nhất gồm: Vietnam Japan Gas (VJG) (liên doanh giữa Taiyo Nippon Sanso và Tomoe Shokai), Air Water Vietnam, Iwatani Vietnam, Tomoe Vietnam,  Messer, Air Liquide và Linde. Trong đó  VJG và Messer chiếm phần lớn thị trường.

Khí công nghiệp có khách hàng lớn ổn định cho lĩnh vực sản xuất sắt thép, điện táng, và công nghiệp hoá chất. Các khách hàng sử dụng chính gồm: Hoa Phat, Pomina, TISCO, thép POSCO và Vina Kyoei, Nghi Son, ASP, LSP, Long Sơn. Hoà Phát chuẩn bị thêm lò cao mới tại miền Trung, còn ASP sẽ mở rộng dây chuyền sản xuất.

Nhu cầu khí argon và các bon đioxit cũng tăng trưởng đều. Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư sử dụng rất nhiều khí argon. Tuy nhiên việc gia tăng các quy định về an toàn môi trường dẫn đến sự hạn chế sử dụng chất khí này.

Khí CO2 lỏng được các nhà máy sản xuất phân bón sử dụng chủ yếu. Nhu cầu tăng cao nhưng khi nguồn phân bón nhập khẩu gia tăng thì nhu cầu khí CO2 cho sản xuất bị chậm lại. Do công nghiệp hoá dầu chưa phát triển nên nguồn cung khí Co2 và Hydro tại Việt Nam rất hạn chế, chỉ có ở một số nhà máy lớn.

 

Chuyên mục phụ