Tin tức

Tin thị trường

JBIC cho TSUJITOMI VIETNAM CO., LTD vay sản xuất vải không dệt

Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản  đã ký khoản vay cho  TSUJITOMI VIỆT NAM CO., LTD (TJVC).  Khoản vay này được đồng tài trợ với Shiga Bank, Ltd.  Khoản vay sẽ tài trợ vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất và kinh doanh vải không dệt do TJVC thực hiện tại tỉnh Hà Nam và xây dựng nhà máy sản xuất mới.

TsujiTomi là một công ty vừa và nhỏ được thành lập vào năm 1930, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vải không dệt cho vật liệu nội thất ô tô và vật liệu kỹ thuật dân dụng. Năm 2019, TJVC thành lập cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Nhu cầu về vải không dệt dự kiến ​​sẽ tăng chủ yếu ở châu Á, TsujiTomi dự định giảm chi phí sản xuất và mở rộng doanh số thông qua việc thành lập TJVC. Khoản vay này sẽ góp phần duy trì và cải thiện khả năng cạnh tranh quốc tế của các ngành công nghiệp Nhật Bản.

Sociedad Iberica De Construcciones Electricas S.A trúng thầu giao thông thông minh Đà Nẵng

<

Ban quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên Thành phố Đà Nẵng đã có thông báo trúng thầu cho nhà thầu "Sociedad Iberica De Construcciones Electricas S.A" trúng thầu gói thầu 2.4+2.5 "Cung cấp, lắp đặt Hệ thống Vé và Hệ thống Giao thông Thông minh cho Hệ thống Giao thông Công cộng và Hệ thống Tín hiệu Giao thông ưu tiên cho BRT". Tổng giá trị hợp đồng 84,239,734,024 VNĐ thời gian thực hiện 24 tháng + 12 tháng trách nhiệm sai sót. Đây là gói thầu thuộc dự án "Cải thiện hạ tầng giao thông thành phố Đà Nẵng" nhận tín dụng từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế cho chi phí của Dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng (DSCDP) với tổng dự toán đầu tư 1.427.466.200.000 VNĐ.

Nội dung hợp đồng:

LÔ 1: Cung cấp và lắp đặt hệ thống thu phí tự động (AFC) và Giao thông Thông minh ITS cho hệ thống giao thông công cộng cho tuyến chính BRT; tuyến R1, R3 và 5 tuyến buýt đô thị.

Thu phí tự động (AFC); Hệ thống quản lý đoàn xe (FMS); Hệ thống thông tin hành khách thời gian thực (RTPI); hệ thống CCTV; hệ thống cửa tự động và đỗ xe chính xác; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho Giao thông Thông minh ITS; các hệ thống ITS khác.

LÔ 2: Cung cấp và lắp đặt hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên BRT; Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) (hệ thống thông tin liên lạc có dây và không dây) cho các tuyến xe buýt thuộc Dự án.

Hợp đồng này bao gồm :

- Cung cấp và Lắp đặt hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên cho tuyến chính BRT (bao gồm 60 nút giao thông tín hiệu ưu tiên).

 Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông sử dụng thiết bị vô tuyến, cáp quang, PLC (truyền thông qua dây điện) để kết nối, truyền tải tín hiệu giữa tủ điều khiển và kết nối đến toàn bộ các thiết bị trong hệ thống Giao thông Thông minh ITS, hệ thống tín hiệu giao thông ưu tiên xe buýt BRT và DATRAMAC, trung tâm lưu trữ dữ liệu tại số 2 Quang Trung thành phố Đà Nẵng.

Ericsson trúng thầu "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019

<

Tổng công ty hạ tầng mạng (VNPT Net) vừa có công văn số 1397/QĐ-VNPTNet-KHĐT-PTM ngày 25/7/2019 do Phó Tổng giám đốc Nguyễn Như Thông phê duyệt Liên danh  Công ty TNHH Ericsson Việt Nam, CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG VTC, Ericsson AB trúng gói thầu "Cung cấp thiết bị hệ thống vô tuyến" cho dự án "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019". Hình thức đấu thầu là chỉ định thầu quốc tế. Giá trúng thầu gói thầu (đẫ bao gồm thuế nhà thầu nước ngoài, chưa bao gồm thuế VAT) là 38.234.463 USD (Tỷ giá USD /VND : 24.000) và 191.565.764.500 VND. Thời gian thực hiện hợp đồng 12 tháng.

Dự án sẽ được giao cho Ban quản lý hạ tầng II - VNPT Net thực hiện.

 
 
 

Thị trường khí công nghiệp phát triển ổn định

<

Thị trường khí công nghiệp tại Việt Nam phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 6-7%, quy mô thị trường năm 2018 vào khoảng từ 2500-3400 tỷ đồng. 

Nhiều nhà sản xuất từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Malyasia và Singapore đang đầu tư dây chuyền sản xuất vào Việt Nam cũng như các tập đoàn nhà nước sản xuất thép, dầu khí, phân hoá học thúc đẩy nhu cầu sử dụng khí công nghiệp. Thêm vào đó là một số lĩnh vực mới như linh kiện điện tử, thiết bị điện gia dụng, dược phẩm, thức ăn. Chụp cộng hưởng từ tại các bệnh viện cũng sử dụng khí như ni tơ, argon, các bon dioxit và helium. Sản xuất còn tập trung sâu vào các nhà máy quy mô trung bình cũng yêu cầu lượng lớn khí, vật liệu hàn ....

Khi được phỏng vấn về khó khăn trong kinh doanh khí công nghiệp tại Việt Nam, các doanh nghiệp đều trả lời:

- Sự giải thích về pháp luật và quy định an toàn khí tuỳ thuộc nhân viên chính phủ và thời điểm.

- Bình chứa khí áp suất cao không được đánh dầu bằng màu theo loại khí.

- Không có phương pháp về bảo trì.

Các khó khăn tương tự xuất hiện với việc cấp phép. Các xe chở khí công nghiệp áp suất cao không được đi qua các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh. Việc tắc nghẽn giao thông thương xuyên cũng cản trở phát triển khí công nghiệp.

Các công ty cung cấp khí công nghiệp lớn nhất gồm: Vietnam Japan Gas (VJG) (liên doanh giữa Taiyo Nippon Sanso và Tomoe Shokai), Air Water Vietnam, Iwatani Vietnam, Tomoe Vietnam,  Messer, Air Liquide và Linde. Trong đó  VJG và Messer chiếm phần lớn thị trường.

Khí công nghiệp có khách hàng lớn ổn định cho lĩnh vực sản xuất sắt thép, điện táng, và công nghiệp hoá chất. Các khách hàng sử dụng chính gồm: Hoa Phat, Pomina, TISCO, thép POSCO và Vina Kyoei, Nghi Son, ASP, LSP, Long Sơn. Hoà Phát chuẩn bị thêm lò cao mới tại miền Trung, còn ASP sẽ mở rộng dây chuyền sản xuất.

Nhu cầu khí argon và các bon đioxit cũng tăng trưởng đều. Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư sử dụng rất nhiều khí argon. Tuy nhiên việc gia tăng các quy định về an toàn môi trường dẫn đến sự hạn chế sử dụng chất khí này.

Khí CO2 lỏng được các nhà máy sản xuất phân bón sử dụng chủ yếu. Nhu cầu tăng cao nhưng khi nguồn phân bón nhập khẩu gia tăng thì nhu cầu khí CO2 cho sản xuất bị chậm lại. Do công nghiệp hoá dầu chưa phát triển nên nguồn cung khí Co2 và Hydro tại Việt Nam rất hạn chế, chỉ có ở một số nhà máy lớn.

 

Hội thảo điện gió 2019 - Vietnam Wind power 2019

Ngày 11-12/6/2019 tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Thúc đẩy hỗ trợ tài chính cho điện gió Việt Nam”. Hội thảo do diễn giả Ashish Sethia, trưởng bộ phận phân tích và tư vấn Châu Á Thái Bình Dương, Bloomberg New Energy Finance trình bày, nằm trong hội thảo “Năng lượng gió Việt Nam - Vietnam Wind Power” lần 2 do Global Wind Energy Council hợp tác với  GIZ, đại sứ quán Đan Mạch, Ai len tổ chức.

Việt Nam là thị trường sôi động năng lượng gió  với sự phát triển các dự án trên bờ và ngoài khơi. Điện gió ngày càng đóng góp quan trọng cho các ngành công nghệ cao do tăng trưởng nhu cầu sử dụng điện, đảm bảo giá điện ổn định, sử dụng năng lượng sạch. Năng lượng gió cấp điện ổn định, không gây chênh lệch phát tải cho lưới điện và phải xử lý vật liệu sau sử dụng. Tuy nhiên năng lượng gió yêu cầu vốn đầu tư lớn, thực hiện dự án dài, khó khăn khi ký hợp đồng mua bán điện ... gây cản trở đầu tư. Việt Nam đã có 327 MW điện gió được lắp đặt và theo báo cáo của Global Wind Energy Council sẽ có tới 1GW điện gió được triển khai đến năm 2021. Công ty Enterprize Energy có trụ sở tại Singapore liên doanh cùng nhà sản xuất tua bin gió OEM MHI Vestas, tập đoàn công nghệ DNV GL, Renewable Energy Global Solutions và tập đoàn dầu khí PetroVietnam đã được Chính phủ chấp thuận khảo sát dự án phát điện ngoài khơi kê gà, 20-50 km ngoài khơi Bình Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu với công suất 3.4 GW mức đầu tư 12 tỷ đô la. Giai đoạn 1 dự án có công suất 600 MW sẽ phát điện thương mại vào 2022, toàn bộ dự án vào năm 2026. Ngân hàng Thế giới và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) hồi đầu năm nay đã đánh giá tiềm năng kỹ thuật của Việt Nam cho điện gió ngoài khơi cố định và nổi ở mức 309GW.

Trong khuôn khổ hội thảo, các chuyên gia làm rõ những thách thức hiện tại của việc tài trợ cho các dự án gió ở Việt Nam, giải thích rủi ro và giảm thiểu hồ sơ vay vốn dự án.  Các chuyên gia châu Âu, Đan Mạch, Ai len chia sẻ công nghệ mới nhất về phát điện xanh sạch cho môi trường.